Nhom Chin Bon - Hong Duc - Da Nang
Đem Tết Về Nhà
Chin Bon
Chin Bon
Ba Má tôi đón Xuân… những ngày xa rồi
Giáng sinh và Tết Tây qua đi trong lạnh lẽo, dẫu đèn hoa lấp lánh, tiếng nhạc rộn ràng vang lên trong những khu shopping, chợ, tiệm ăn … và ngay cả khu nhà nơi tôi ở.

Cộng đồng người Châu Á trong đó có Người Việt chúng ta lại chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán, thường vào đầu tháng hai Dương Lịch. Một trong những nét văn hoá mà những người ly hương luôn quan tâm, gìn giữ và lưu truyền.

Ngày xưa ấy, dù đất nước đang thời chinh chiến nhưng năm nào ba má tôi cũng chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán thật chu đáo.

Tôi mê nhất là đi chợ hoa với Ba tôi. Sau khi dạo một vòng, khác với nhiều người hay mua hoa mai, mua cây quật chưng cho ngày Tết; Ba tôi lại thích thược dược, cúc vàng và luôn luôn có Vạn thọ.

Lúc nhỏ tôi không ưa mùi của hoa Vạn thọ vì nó hơi nồng mùi thuốc Bắc. Tôi không hiểu tại sao ba má tôi đều yêu thích loài hoa này đến thế. Tuổi thơ, tôi thầm nghĩ có lẽ ba má muốn cầu nguyện được sống đến vạn năm, như cái tên: vạn thọ; vì vậy tuy không mỹ miều, rực rỡ… vạn thọ luôn được ưu ái chứ không phải vì giá của nó rất rẻ.

Ba tôi ít khi nào chờ đến chiều cuối năm mới mua hoa. Nếu có dịp xuống chợ hoa lúc chợ tàn đêm ba mươi, ba tôi thường mua thêm. Ánh mắt ba tôi đầy ái ngại cảm thương khi thấy những người trồng hoa từ trong quê chở hoa ra không bán được, buộc phải bán giá rẻ; nếu không thì chỉ có vứt bỏ cả vốn lẫn công. Ba tôi rất thông cảm nên lặng lẽ trả tiền đúng giá chứ không kỳ kèo thêm bớt. Ba hiểu: hoa Tết mất giá cuối năm là nụ cười của người được mua hoa rẻ về chưng Tết, nhưng lại là nỗi buồn của người trồng hoa.

Bên cạnh việc mua sắm hoa Tết, Ba tôi còn chăm chút đến việc chưng bày bàn thờ Tổ Tiên. Những bộ lư đồng được ba chở ra tiệm lau chùi lại sáng bóng. Hương trầm được tuyển chọn loại tốt. Đặc biệt ba thường mua hương do các Chùa tự làm chứ không mua hàng chợ.
Mỗi ngày đi làm về thế nào ba tôi cũng chở về một vài món gọi là chuẩn bị Tết.

Trong khi đó Má tôi thì lo các mâm cúng kiến, bánh trái, mứt và quà cáp cho họ hàng gần xa. Đầu tiên là cúng đưa Ông Táo về trời chừng 1 tuần trước Tết. Tiễn Ông Bà Táo thường không có gì ngoài bộ áo, giấy tiền vàng bạc, chè xôi và hoa quả. Lúc bé tôi cứ nghĩ: chắc Ông Bà Vua Bếp cả năm ăn uống đủ thứ rồi nên tiệc chia tay không cần mâm cao cổ đầy, chỉ cần chiếc phi thuyền bằng giấy để bay lên Thượng giới, báo cáo việc trần gian cho lẹ. Má tôi tiễn ông Táo xong thì bắt tay vào các món bánh cho ngày Tết. Má làm được tất cả các loại bánh truyền thống đặc sản Quảng Nam, và làm rất khéo. Hiên trước nhà tôi luôn rộn ràng những ngày gần Tết, vui lắm. Thường Má không làm mức mà cùng ba đi dạo chợ Tết để mua sắm.

Tôi vẫn còn nhớ cảm giác thích thú khi cùng má soạn các loại mứt, hạt dưa… cho vào lọ thuỷ tinh để bày dọn các ngày đầu năm. Mỗi thứ đều dành vài gói nhỏ để đem biếu nhà ông bà nội ngoại, cô bác gần xa…

Thuở bé tôi cứ nghĩ … Ba má là người làm ra Tết, chở Tết về nhà … là thế.

Những mùa xuân, những cái Tết được Má làm ra, Ba chở về …sau 1975 thì không còn nữa.

Ba tôi biền biệt lao tù không rõ ngày về. Mỗi dịp cuối tháng chạp là mỗi lần ngóng trông. Má tôi tất tả vừa lo cơm gạo cho đàn con vừa lo bới xách thăm nuôi. Hai vai nặng gánh. Hoàn cảnh gia đình thật bi đát!

Ba đã trong tù, không còn cơ hội chở Tết về và Má tôi không có điều kiện làm ra Tết nữa.

Anh em chúng tôi đón những mùa xuân mà… không có Tết.

Có một kỷ niệm vào ngày cuối năm mà tôi còn nhớ. Má tôi đi chợ vào chiều 30 Tết, với ít tiền có được khi má quyết định gở bán một cái quạt trần ở phòng khách.
Chợ đông tấp nập, Má tôi dè dặt so đo rồi mua một bịch gạo và vài món rau dưa, ít thịt heo. Má gọi một chú xe đạp thồ (còn gọi là xe ôm) tuổi trung niên chở về. Bịch gạo được để phía trước xe đạp. Má ngồi sau cùng giỏ đồ lặt vặt. Chú xe thồ xả giao hỏi thăm chuyện gia đình; má tôi buồn quá cũng tâm sự về hoàn cảnh gia đình. Đến một đoạn đường kẹt xe vì có tàu hoả đi qua, má tôi thấy chú vất vả quá mới nhẹ nhàng nhảy xuống xe. Chú không hề hay biết, cứ len lỏi tiếp tục đi về phía trước…

Má tôi khi biết đã lạc thì quay quắt, cuống cuồng tìm kiếm. Đường phố đông người, không ai tìm ra ai. Má tôi vội vàng lên một chiếc xe đạp thồ khác hối hả về nhà. Vào tới đầu hẻm má đã hớt hải khóc la: “Trời ơi, cuối năm mà khổ quá… mua được ít gạo chớ có nhiều nhặn chi… Trời ơi, tết ni con tui nhịn đói rồi. Khổ quá, không lẻ tui bị … cha xe thồ lừa, ác chi mà ác quá nè trời…”

Má tôi vừa khóc vừa than… chừng 30’ sau… chú xe đạp thồ xuất hiện; mặt mũi lấm lem; chú nói: “Em đi tìm nhà chị hết hơi; may mà có nói chuyện với chị trước đó, em mới biết chị ở trong kiệt ni. Chớ… chị nhảy xuống xe hồi mô em không hay?”

Má tôi lúc đó sững sờ và cũng có phần gượng gạo…”Ui cha! Tui tưởng chú… đi mất, chắc bầy con tui Tết ni… không có cháo húp”. Chú xe thồ nhỏ giọng:”Nói chi tội rứa chị, mình cùng hoàn cảnh mà! Em không kiếm ra chị nên lật đật đạp xe về con hẻm này. Em nhớ câu chuyện chị kể… nhà cửa bị tịch thu phải dọn về ở xóm ni, …em hỏi bà đầu hẻm, vô đây đúng y gặp chị. Đem bịch gạo lại cho chị với mấy cháu ăn Tết nè!”

Những người trong xóm đang tò mò đứng hóng chuyện; ai nấy đều tấm tắc về lòng tốt của chú đạp xe thồ, còn bảo má tôi: cuối năm mà hên chứ!
Năm đó, ngày Tết có gạo nấu ăn ba bữa.
Chú xe thồ chính là người đã chở Tết về nhà tôi. Cái Tết hiếm hoi ấm áp tình người.

                                                                 ***

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, sinh hoạt cộng đồng cũng luôn rộn ràng cho ba ngày Tết. Người Việt chúng ta ra đi dù vất vả mưu sinh và gặp nhiều khó khăn để được sống còn, để hoà nhập với hoàn cảnh mới. Hầu như ai ai cũng còn mang trong lòng chút bản sắc dân tộc, sống ở quê người mà lòng luôn hoài niệm quê nhà. “Chúng ta ra đi, mang theo quê hương” là đây! Là bánh mức, pháo đỏ rượu hồng bày bán ở các khu chợ Á Đông; là họ hàng bạn bè gặp nhau mời tất niên, mời họp mặt đầu năm. Công nhân các hãng xưởng rủ nhau đón Tết ngay trong chỗ làm; các món ăn truyền thống được giới thiệu với những người dân bản xứ và các cộng đồng dân tộc khác. Thế hệ ông bà cô bác đi trước hướng dẫn nhắc nhở con cháu các tập tục xưa.

Đó chính là những người đã đem Tết từ quê nhà sang đây, hoà cùng mây trời và nắng xuân nơi quê người, tạo nên những cái Tết Việt Nam bên ngoài quê hương, làm ấm lòng người Việt nơi Hải Ngoại.

Ba tôi vẫn thói quen đi dạo các chợ. Ai mua gì thì mua, thả ba tôi vào chợ Á đông, chợ Việt Nam thì thế nào ông cũng thơ thẩn ở khu bày bán hương đèn, nhang trầm, ly chén chưng bàn thờ. Ông cũng gắng tìm cho ra giống hoa Vạn thọ. Phải mất nhiều năm sau Ba cũng trồng được một vạt hoa vạn thọ hai màu đậm nhạt. Ông vui lắm. Ông còn phụ má tôi trong việc làm các loại bánh cho ngày Tết. Hai mái đầu bạc lụm cụm bên nhau. Mùi lá chuối, mùi mứt gừng thơm lừng làm ấm áp căn bếp.

Những ngày cuối năm Âm lịch thì trong nhà rộn vang những bản nhạc xuân, bàn thờ Phật cũng đèn hoa lấp lánh. Hoa vạn thọ lên ngôi. Những phong bì lì xì được gắn lên cành hoa đào, hoa mai chưng ở phòng khách. Con cháu được thưởng thức các món ăn mang hương vị quê nhà.

Mùa đông nơi đây lạnh lắm, tiết Xuân về càng lạnh hơn. Nơi tôi ở hoa đào bắt đầu điểm hồng, điểm trắng trên cành. Đất trời đã vào xuân, mang mùa xuân về, vạn vật khởi sắc nhưng trong lòng con cháu, Ba Má mới là người đã làm ra Tết và đem Tết về nhà!

Không còn Ba Má thì mùa Xuân nơi đâu cũng mãi mãi không có Tết!

NDAT - Atlanta GA